Sự vững mạnh của Phật giáo Tây Tạng sở hữu các nét đặc thù mà có lẽ không nước nào khác trên toàn cầu với được.
Nửa thế kỷ sau chậm tiến độ, năm 710 vua tuyến phố Duệ Tông lại gả công chúa Kim Thành cho vua Tây Tạng đời thứ 35 là Khí-lệ-xúc-tán. Vị công chúa này lại mang lại Tây Tạng toàn bộ kinh thư và sách vở của Trung Hoa.
Năm 787, ngôi chùa trước nhất của Tây Tạng có tên là chùa Samye (Tang duyên) được vun đắp và hoàn thành về phía đông nam thủ đô L’hasa và đây là nơi mà vị cao tăng Ấn Độ Santaraksita (Tịch Hộ) đến hoằng hóa trong suốt 13 năm thể theo lời mời của vua Trisong Detsen. Sau ngừng thi côngĐây có phổ biến ngôi chùa khác được vun đắp khắp nơi và phổ biến vị cao nâng cao Ấn Độ được mời sang Tây Tạng để hoằng pháp. Thời kì này được xem là quá trình vững mạnh mạnh nhất của Phật giáo Tây Tạng. Có thể tìm hiểu thêm phật giáo tây tạng tại https://www.dkn.tv/the-gioi/pha-huy-thanh-dia-phat-giao-tay-tang-va-nhung-cuoc-dan-ap-tin-nguong-tan-ac-trong-lich-su-trung-quoc.html. Có sự hỗ trợ của vua Khri-ral-pa-can, Phật giáo đã đẩy lui những ảnh hưởng của tín ngưỡng thần chú, bùa ngãi địa phương Bon Pa.
mặc dầu Phật giáo vững mạnh mạnh, nhưng người dân Tây Tạng vẫn ưa chuộng huyền thuật hay phép màu do tác động lâu đời củađạo Bon Pa để lại. Ảnh hưởng này ngấm ngầm chi phối dân Tây Tạng trong việc hấp thu những luồng tư tưởng Phật giáo khác nhau. Theo chiều dài của lịch sử, Phật giáo Tây Tạng chịu tác động của bốn luồng tư tưởng; chậm triển khai là:
1) Luồng tư tưởng này tới từ phương Nam và là sự tổng hợp những tư tưởng đại thừa do 1 số học kém chất lượng bậc nhất của đại học Ma-kiệt-đà truyền tới. Họ đã sắp xếp nội dung bộ Bát Nhã Ba-la-mật thành 25,000 bài kệ sở hữu đánh số rõ ràng và đây được xem như là bước đầu tiên trong việc thiền quán về bộ kinh này. Vì đã được chú thích trước ở Ấn Độ nên khi truyền tới Tây Tạng thì bộ Hiện Quán nghiêm trang Luận đã trở thành nền móng cơ bản để đào luyện những tư tưởng cao hơn mà không lệ thuộc hệ thống Mật tông.
2) Luồng tư tưởng thứ hai đến trong khoảng phía Đông là của phái nhất định hữu bộ. Tuy được sự thỉnh mời của vua Tây Tạng, nhưng bộ phái này ko bao lâu đã trở thành mờ nhạt vì người dân Tây Tạng ko mấy tích cực về những giáo lý mà chỉ thích phép mầu, thần thông.
3) Luồng tư tưởng thứ ba cũng tới trong khoảng phía Đông do những thiền sư Trung Hoa truyền sang. Những vị này đã mang đông đảo nỗ lựcđể chuyển lối sống của người dân Tây Tạng sang theo lối đại thừa, nhưng sau Đó vì tác động của mật tông nên họ đã bị thất bại hoàn toàn và bắt đề xuất rời khỏi Tây Tạng. Khoảng năm 775 có cuộc tranh đấu dữ dội giữa những đệ tử của các bậc thầy Trung Hoa (đại thừa) và những môn sinh của bậc thầy mật tông. Những tu sĩ Trung Hoa bị dồn ép ác liệt và kết quả họ bị đuổi ra khỏi xứ này. Đây có lẽ đánh dấu cho sự cáo chung của Phật giáo đại thừa khởi đầu truyền vào Tây Tạng vào thời công chúa Văn Thành.
4) Luồng tư tưởng thứ tư là do Đại sư Liên Hoa Sanh (Padma Sambhava) được vua Tây Tạng Ngật Lật Song Đề Tán (755-797) thỉnh trong khoảng xứ Udyàna, miền bắc Ấn Độ. Khi nhận lời mời tới Tây Tạng, Đại sư còn đem theo 25 vị đồ đệ rất nổi danh mang tài thần thông biến hóa, hàng phục ma chướng tà đạo. Ấn tượng mà Ngài Liên Hoa Sanh tạo ra với Tây Tạng phần lớn là nhờ vào việc thực hiện những phép mầu, với tài chinh phục ma quỷ và khả năng thần thông biến hóa rất gần gũi mang đạo Bon Pa nên được dân Tây Tạng hấp thu rất cuồng nhiệt. Các huyền thoại để lại về Ngài có thể là đã vượt qua các sự kiện lịch sử vì dân Tây Tạng xem Ngài là Đức Phật Thích Ca tái thế.
Sự dung hợp và thu nạp các luồng tưtưởng theo xu hướng đặc biệt của người dân Tây Tạng đã biến Phật giáo Tây Tạng đậm màu sắc của những huyền thuật và phép mầu. Ngài Liên Hoa Sanh là người sáng lập ra tông phái Ninh Mã (Nyingma) được gọi là Cổ phái và vẫn còn hoạt động cho đến hiện giờ. Ngài cũng là tác kém chất lượng của cuốn sách “Tử Thư”, xây dựng tu viện Tang Duyên (Samye) và được coi là tiên sư cha của Phật giáo Tây Tạng. Thành ra Phật giáo Tây Tạng không còn tác động Phật giáo Đại thừa nữa mà được xem như là Phật giáo Mật tông đậm màu sắc thần linh, nghi lễ, phù chú, ấn quyết, xuất quỷ nhập thần rất phức tạp.
tuy nhiên, năm 836 khi vua Tây Tạng đời thứ 39 là Lang-dar-ma lên ngôi thì ông nỗ lực tích cực để tiêu diệt Phật giáo vì ông là một giáo đồ thuần thành của đạo Bon Pa. Sau lúc đàn áp Phật giáo được sáu năm thì ông bị một Lạt Ma tiêu dùng cung bắn chết vào năm 842. Tuy đã giết thịt chết nhà vua, nhưng tình hình Tây Tạng càng ngày càng đi vào chỗ tối tăm vì các lực lượng thần thế tranh dành quyền lực khiến nước Tây Tạng bị chia năm xẻ bảy làm cho đời sống dân Tây Tạng khôn xiết khổ sở. Triều đình mạnh tay đàn áp Phật giáo và buộc những tăng sĩ phải đi khiến cho thợ săn, đồ tể… và họ đốt phá kinh điển cũng như chùa chiền. Để chống lại đạo Bon Pa, Phật giáo Tây Tạng tìm cách thức tái lập quan hệ mang Ần Độ để thỉnh mời những tăng sĩ sang truyền pháp.
Từ khóa: phat giao tay tang. Có thể tìm hiểu thêm phat giao tay tang tại https://www.dkn.tv/the-gioi/pha-huy-thanh-dia-phat-giao-tay-tang-va-nhung-cuoc-dan-ap-tin-nguong-tan-ac-trong-lich-su-trung-quoc.html

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét